Chế độ ăn macrobiotic đã tồn tại hàng trăm năm và bắt đầu như một phương pháp ăn uống tập trung vào các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, theo mùa và được thu hoạch tại địa phương . Chế độ ăn này cũng chú ý đến việc cân bằng cuộc sống, tập thể dục phục hồi sức khỏe và loại bỏ mọi chất hóa học hoặc thành phần nhân tạo trong thực phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cá nhân. Kể từ khi du nhập vào Hoa Kỳ vào những năm 1970, chế độ ăn này đã trở thành một trào lưu, cả vì những lý do tốt và không tốt.
Những điều cơ bản về chế độ ăn Macrobiotic
Chế độ ăn thực dưỡng đã tồn tại từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, bắt nguồn từ khái niệm ở Hy Lạp cổ đại làm sạch gia Hippocrates khởi thuần. Khi đó, cũng như ngày nay, nó chủ yếu là một cách ăn uống theo mùa, thực phẩm địa phương, chủ yếu là thực vật , tập thể dục ngoài trời, ngủ đủ giấc và cân bằng cuộc sống một cách tốt nhất có thể. Bác sĩ người Phổ, Tiến sĩ Christoph Wilhelm Hufelan, là người tiếp theo giới thiệu lại chế độ ăn thực dưỡng vào năm 1796 với cuốn sách của ông, ” Thực dưỡng: Nghệ thuật kéo dài tuổi thọ” .
Khái niệm này lại tăng dần mất cho đến giữa thế kỷ 19, khi bác sĩ Sagan Ishizuka ở Nhật Bản bắt đầu kết hợp các nguyên tắc ăn kiến thực dưỡng vào phương pháp điều trị của mình, vốn trước đây dựa nhiều vào y học phương Tây. Ishizuka đã chứng kiến tình trạng sức khỏe thân thiện ở những bệnh nhân quân đội của mình làm chế độ ăn uống không tốt, vì vậy ông đã áp dụng một chế độ ăn dựa trên thực phẩm nguyên chất, tươi ngon theo mùa, chưa qua chế biến, loại bỏ mọi thành phần nhân tạo, sữa và protein không phải từ cá. Thực đơn bao gồm các loại thực phẩm như ngũ cốc nguyên hạt, rau biển, đậu, nông sản địa phương theo mùa, các loại hạt và thỉnh thoảng là cá.
Cũng giống như các bác sĩ khác trước ông, sau khi Ishizuka qua đời, phòng khám của ông tiến lụi tàn, và chế độ ăn thực dưỡng lại bị lãng quên. Cho đến những năm 1920, khi George Ohsawa, người đang hấp hối vì bệnh lao, tình huống tìm thấy nghiên cứu của Ishizuka và quyết định tự mình thử chế độ ăn dưỡng thực sự. Kết quả thực sự phi thường và Ohsawa đã hoàn toàn bình phục. Ohsawa, cùng với vợ mình là Lima, bắt đầu học giảng dạy lý lý và nguyên tắc đằng sau chế độ ăn thực dưỡng, và cuối cùng, khái niệm này lan rộng từ Nhật Bản sang châu Âu, rồi ra khắp thế giới. Chế độ ăn thực dưỡng được đón nhận nhiệt độ tại Hoa Kỳ nhờ Michio Kushi, một học trò của Ohsawa và là người sáng lập Erewhon Natural Foods, người phổ biến nó vào những năm 1970.
Chế độ ăn thực dưỡng đã thay đổi qua nhiều thế kỷ và trở thành một phong trào ăn kiến trúc cũng như một lối sống. Nó xoay quanh ba nguyên tắc chính về thực phẩm, bao gồm: Âm và Dương, trong bối cảnh thực phẩm, có nghĩa là các thành phần làm ấm cơ thể cũng cung cấp cho cơ thể nhiều năng lượng hơn, và dương, trong khi thực phẩm âm làm cơ thể cơ sở và có mang lại cảm giác thoải mái hơn; thứ hai là axit và Kiềm, có nghĩa là người ta nên tiêu thụ thực phẩm có độ pH cao để tạo ra chế độ ăn Kiềm; cuối cùng, sự hài hòa hòa với thiên nhiên, một trong những lý do chính tạo chế độ ăn thực dưỡng dựa trên thực vật. Chế độ ăn này cũng kèm theo các nguyên tắc yêu thương cuộc sống và cộng theo ngũ hành –fire, gỗ, nước, kim loại và đất – mặc dù những điều này không liên quan nhiều đến thực phẩm mà liên quan đến lối sống của chế độ ăn thực dưỡng.
Cách nấu ăn theo chế độ ăn Macrobiotic
Các phương pháp nấu ăn chính trong chế độ ăn thực dưỡng bao gồm hấp thụ, xào, ăn sống, mịn và nướng. Điều quan trọng nhất cần lưu ý khi nấu ăn theo chế độ này là nguyên liệu được chế độ biến.
Nên ăn gì trong chế độ ăn thực dưỡng?
- Ngũ cốc: Cốt lõi yếu tố của chế độ ăn thực dưỡng là hạt nguyên tố bột ngũ cốc, và nhiều loại thực phẩm chứa khoảng 50% loại thực phẩm này. Điều này bao gồm mọi thứ từ kê đến hạt quinoa đến lúa mì nguyên hạt .
- Rau quả: Rau tươi, theo mùa và có nguồn gốc địa phương là một phần quan trọng khác của chế độ ăn uống, đặc biệt là các loại rau lá xanh như cải xoăn, cải xoăn và cải cầu vồng. Phần này sử dụng khoảng 30% lượng thức ăn hàng ngày và rau có thể hấp thụ, rung, xào hoặc nướng. Có một số người theo chế độ ăn này nên tránh các loại rau thuộc họ cà khoai tây, cà chua, cà tím và ớt, cũng như củ cải đường, bí Ngòi và rau bina, nhưng những thực phẩm này không bị cấm hoàn toàn. Tuy nhiên, trái cây không có nguồn gốc địa phương thì không được khuyến khích sử dụng.
- Protein: Một ít hải sản tươi hoặc cá để bổ sung protein được phép, mặc dù thường không ăn hàng ngày. Phần lớn protein trong chế độ ăn thực dưỡng đến từ các loại đậu, đặc biệt là đậu nành. Mặc dù thực phẩm chế độ sẵn có nói chung không phải là một thành phần của chế độ ăn này, nhưng đậu nành được chế độ thành đậu phụ, đậu hũ hoặc tempeh sẽ được phép. Đậu nành cũng được sử dụng dưới dạng miso , cụ thể là dưới dạng trượt. Trên thực tế, trượt làm từ nước dùng nên được ăn hai lần mỗi ngày. Các loại hạt và/hoặc hạt rang nhẹ và tắc cũng có thể được bổ sung vào, nhưng không quá một ounce mỗi ngày.
- Dầu ăn và gia vị: Để nấu ăn, nên tránh dùng dầu ô liu hoặc dầu dừa. Thay vào đó, các loại dầu ăn được chấp nhận trong chế độ ăn thực dưỡng bao gồm dầu mè nhạt hoặc đậm màu, dầu thực vật chưa tinh chế, dầu ngô hoặc dầu hạt mù tạt. Gia vị có thể được sử dụng và chế độ ăn thực dưỡng thường có các loại gia và hương liệu Nhật Bản như dưa muối lên men , nước tương shoyu , vị thuốc tăng cường, nhẹ muối lứt và mơ umeboshi , Mận umeboshi và rong biển rang.
Những thực phẩm không nên ăn ở chế độ ăn thực dưỡng
Điều quan trọng nhất cần nhớ khi nấu ăn hoặc Đổ theo chế độ ăn thực dưỡng là tránh xa hóa chất, thực phẩm chế biến sẵn, các sản phẩm từ sữa và thịt không phải cá. Danh sách thực phẩm bị cấm cũng bao gồm trứng, đường tinh luyện, mật ong , mật mía, cà phê, trà đen và rượu. Một khi đã loại bỏ những sản phẩm đó, việc nấu ăn theo chế độ ăn thực dưỡng không còn khó khăn nữa. Hơn nữa, việc lên kế hoạch và chuẩn bị đúng loại sản phẩm cho mỗi bữa ăn trong ngày mới là điều kiện.
:max_bytes(150000):strip_icc()/vaaseenaa-7585a0614bb54622875136850ead6978.jpg)
:max_bytes(150000):strip_icc()/NatalKondrasovaEyeEm-49f2e1eb57124ec4ac420ce12304b3bd.jpg)
Dinh dưỡng và lợi ích
Dinh dưỡng là lý do chính làm cho mọi người lựa chọn chế độ ăn thực dưỡng. Chế độ ăn này giàu thực phẩm nguyên chất, tươi sống và nông sản địa phương. Nó không có đường, chất bổ sung hóa học, thành phần nhân tạo, caffeine hoặc rượu, tất cả đều có thể gây hại cho sức khỏe dù không được tiêu thụ điều độ. Do thiếu thịt, các loại hạt và dầu, chế độ ăn này cũng không cung cấp nhiều chất béo cho người ăn. Mặc dù chế độ ăn này rất bổ sung nhưng nó cũng có thể hữu ích cho người bệnh tiểu đường vì không có đường bổ sung.1Một cách khác mà chế độ ăn macrobiotic có thể giúp ích cho cơ thể bằng cách giảm viêm.2Điều này có thể dẫn đến nhiều vấn đề về sức khỏe.
Mặc dù nhìn chung giàu dinh dưỡng, chế độ ăn thực dưỡng có nhiều hạn chế tạo việc thực hiện trở nên khó khăn. Một nhược điểm khác của chế độ ăn này là thiếu protein, sắt, ngọc, canxi và vitamin B12. Vì chế độ ăn này cho phép sử dụng các thành phần nhân tạo và chất phụ gia trong thực phẩm nên việc tìm kiếm thực phẩm bổ sung vitamin để giúp cân bằng các chất thiếu hụt này có thể khó khăn. Chế độ ăn thực dưỡng cũng Đòi hỏi nhiều thời gian và năng lượng để đảm bảo đủ lượng thực phẩm tốt được đưa vào chế độ ăn chế độ, bao gồm lập kế hoạch, mua sắm và chủ yếu là nấu ăn tại nhà.
Chế độ ăn Macrobiotic so với chế độ ăn tĩnh chay
Về nhiều mặt, chế độ ăn thực dưỡng tương tự như chế độ ăn nhạt chay , ngoại trừ việc bổ sung cá và hải sản. Chế độ ăn tĩnh chay hoàn toàn không cho phép bất kỳ sản phẩm nào từ động vật. Cả chế độ ăn tĩnh chay và chế độ ăn thực dưỡng đều kiến sữa, thịt, trứng và mật ong. Nhìn chung, chế độ ăn thực dưỡng dưỡng khe hơn chế độ ăn tĩnh chay vì nó giới hạn lượng thức ăn được phép ăn và cho phép sử dụng nhiều loại dầu, rau quả không trồng tại địa phương, caffeine, rượu và đôi khi cả các loại rau thuộc họ cà chua. Tuy nhiên, không giống như chế độ ăn tĩnh chay, người theo chế độ ăn thực dưỡng có thể mặc định và mua đồ da.
Tóm lại
Việc cho rằng chế độ ăn macrobiotic tốt cho sức khỏe vừa là sự thật, vừa là một quan niệm sai lầm. Trước hết, chế độ ăn này có nhiều khía cạnh tốt cho sức khỏe như kiểm khẩu phần ăn, không đường, nhiều rau và ngũ cốc nguyên hạt, và không có thành phần nhân tạo. Nhưng nó cũng thiếu protein, khó duy trì và có thể không phải là chế độ ăn tốt nhất cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người nhạy cảm với muối và những người cần nhiều chất béo tốt hơn trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Nhiều người cũng tin rằng chế độ ăn macrobiotic được tạo ra bởi những người theo phong trào hippie vào những năm 1960. Trên thực tế, chế độ ăn này có nguồn gốc từ hàng trăm năm trước ở Hy Lạp cổ đại và sau đó là Nhật Bản, nơi nó thực sự gây tiếng vang nhờ hai bác sĩ cách sống gần nhau gần 100 năm.


